Thứ Tư, 1 tháng 4, 2020

TRƯỜNG CA RAU ĐẮNG ĐẤT - Nguyệt Lãng 1972


Rau đắng đất là là rau được ưa chuộng ở Miền Tây Nam Bộ. Trong bài hát " Còn thương rau đắng mọc sau hè" , nhậc sĩ Bắc Son cũng đã đưa loai rau này lên hàng nhất phẩm....

Bài hát được Bắc Sơn viết từ bài Trường Ca Rau Đắng Đất của thi sĩ Nguyệt Lãng, sáng tác năm 1972

Trời mưa nước ngập ruộng sâu
Cá đồng về hội rủ nhau nhảy hầm
Mưa là mưa lũ mưa dầm
Hẹn mùa, rau đắng mọc quanh thềm nhà ..
Tộ cá rô kho,
Tô canh rau đắng
Đượm làm sao tình nghĩa nhà quê
Nhớ làm sao thuở còn bé bỏng
Nhà ở xa trường qua mấy nhịp cầu tre
Bấm ngón chân chai bờ đất ruộng
Trời mưa trơn trợt lối đi về ..
Tới cổng,
Mùi cá kho đã dậy
Lạnh cóng tay, cơn đói réo trong lòng
Em với chị vừa đi vừa chạy
Cùng tranh nhau kịp để ngồi mâm!
Em ngồi bên cha,
Chị ngồi cạnh mẹ
Bới chén cơm đầy và đua cho lẹ
Hạnh phúc reo mừng như tiếng chim ca.
Cá rô non nấu canh rau đắng đất
Là tình thương bồi đắp mãi không tròn
Là những buổi cha dầm mưa khai ruộng nước
Quần vo cao,
Áo bà ba rách nách
Điếu thuốc vồng ngấm nước tắt, lạnh run
Tay rổ xúc
Vai đeo đụt mướp
Lũ đĩa trâu thèm máu hút bầm chân!
Là những buổi trời vui mây dẫn gió
Trôi lang thang không biết đến phương nào
Chiều dâng hương cuồn cuộn tiếp chân nhau
Trên ruộng thấp bầy cò bay trắng xoá
Những khi nhàn hạ
Mẹ nhổ rau đắng đất
Đốt lấy tro lắng nước gội đầu
Gió thật hiền lay lá trúc lao xao
Mái tóc chị dài êm như sóng mạ
Mẹ xăm xoi bắt chí
Mẹ chăm chút chải gầu
Xức dầu dừa óng mượt
Cột đuôi gà nhỏng nhảnh đằng sau
Mẹ vuốt tóc chị trầm trồ khen đẹp
Ôi! Dòng tóc hiền thắm nghĩa cù lao!
Mười lăm năm,
Thời gian con đủ lớn
Và tóc mẹ trải màu bông bưởi bông cau
Cha lưng còng như tre gặp gió
Cho lòng con nặng một niềm đau!
Chị theo chồng về nơi xứ lạ
Em linh đinh rày đó mai đây
Thuở nhỏ mưa dầm băng mấy ruộng
Bây giờ mưa ngại bước chân đi! ..
Chị về bên ấy,
Ơ hờ gương lược biếng săm soi
Tóc chị rối bù hong mùi khói bếp
Gió dẫn mây trôi nhìn chỉ ngậm ngùi
Đường về biệt mù
Chồng con bận bịu,
Nơi quê xưa thung đường ươn yếu
Mà nhớ thương như thả tóc lên trời
Em lang thang đầu sông cuối bãi
Thèm một bữa cơm dưới mái gia đình
Nhưng dĩa cá kho mặn mùi nhân ngãi
Tô canh ngày nào cũng đắng vị công danh!
Tộ cá rô kho,
Tô canh rau đắng
Đời nhiều lận đận
Nên mất rồi thời thơ dại dấu yêu
Đã hết rồi thời tan học nghêu ngao
Câu hát cũ bây giờ nghe nuối tiếc
Khi mây trắng lưng trời bay mù như tóc
Gió vờn trên lá cỏ
Và đường đời sự nghiệp trắng đôi tay
Đêm nhà trọ chập chờn giấc điệp
Tình hoài hương ray rức ngủ không yên
Tiếng võng ai kẽo kẹt
Giọng ru hời buồn điệu Vân Tiên:
“Trời mưa nước ngập ruộng sâu
Cá đồng về hội rủ nhau nhảy hầm
Mưa là mưa lũ mưa dầm
Cho rau đắng đất mọc quanh thềm nhà!”
Mười lăm năm,
Bao lần gió nam non thổi lòn hang dế
Em đi từ ấy,
Chân ruộng đồng chưa mòn gót phiêu linh
Ăn quán ngủ đình,
Nước sông gạo chợ
Bao lần đau những cuộc tình tạm bợ
Bao nhiêu lần làm khách lữ qua sông!
Chợt giựt mình, trẻ nhỏ gọi bằng ông
Bỗng nghe nhớ về cố thổ ..
Nhớ rau đắng nấu canh
Nhớ con cá rô kho tộ
Nhớ chị tôi theo chồng năm lên mười sáu
Tóc cột đuôi gà khóc lúc vu qui!
Chị trách hờn cha mẹ đuổi chị đi
Thân con gái ở nhà ngoài, ăn cơm nguội.
Con chim đa đa kêu đâu bờ bụi
Thương cha mẹ già ươn yếu chẳng ai lo
Chị gói một nắm tro
Dặn em gội đầu cho mượt
Xức dầu dừa cho mướt
Đừng để mủn vùa khô khốc rễ tre
Mười lăm năm,
Mới hiểu lời chị dặn
Thì đã bao lần mấy dề rau đắng
Mọc quanh thềm nhà trổ bông trắng rồi khô!
Đã mấy mùa nước ngập chân đê
Con cá rô mấy lần ra sông lớn
Cha không còn dầm mưa thăm ruộng
Không còn ai giành nữa chuyện ngồi mâm!
Bao năm dài không một lời thăm
Thôi thì kể như nước sông chảy ra biển cả
Thằng em nhỏ tóc vẫn chừa ba vá
Như mủng vùa mẹ gọt, lúc lên ba?
Con rô đồng ôm trứng tháng mưa
Chờ đến lúc thả con về ruộng
Chị ngồi nhớ mỗi chiều mỗi sớm
Thả nỗi buồn theo lọn tóc bay.
Một hôm chị ngồi ngạch cửa bấm lóng tay
Rồi chị khóc một mình Không đếm nữa
Buổi trưa nồng gió nồm ru nắng hạ
Khói đốt đồng làm mắt chị cay.
Từ ngày em làm mây
Lang bạt giang hồ khắp ngã
Bặt tin nhạn cá
Có còn nhớ đất, thương quê?
Như ngày lặng lẽ ra đi
Em âm thầm trở lại
Vừa thương em, chị vừa ái ngại
Ba mươi năm, như thể một ngày
Vẫn rám đen như ngày trốn học
Đi mò cua bắt ốc
Giũ trứng kiến vàng câu con cá rô non
Chị ngồi ngạch cửa liếc mắt nhìn em
Đứa em xưa có gì ngờ ngợ
Quần áo bận nửa quê nửa chợ
Chút giang hồ, chút vị quê hương!
Chị ngồi kế bên
Nhìn em ăn cơm mà khóc
Lại bấm lóng tay, lại chùi nước mắt.
Cũng tô canh rau đắng đất
Cũng tộ cá rô kho
Lòng chị như cục than vùi dưới lớp tro
Gió đòi khêu ngọn lửa.
Chị lại ngồi ngạch cửa
Biểu em xích lại gần hơn
Chị ngập ngừng đưa ngón tay run
Lượm sợi tóc sâu ở trên vai áo.
Bây giờ chị gọi em bằng cậu
(Lẽ ra tiếng ấy,
phải kêu từ lúc chị theo chồng!)
Ôi! Con đò đã xa biệt bến sông
Chị cũng thấy mình ngượng nghịu!
Sợi tóc sao bạc phếu?
Đâu phải tóc sâu,
Mà vì bao lâu mưa dải nắng dầu
Qua bao tháng ngày luân lạc
Hai chị em mái đầu đều bạc
Hai chị em cũng già như nhau
Nhớ ngày nào té nước cầu ao
Hát khúc đồng dao cùng cười khùng khục
“Chị em (người) ta như hoa dâm bụt
Chị em mình như cục .. cức trôi!
Cục cức trôi, người ta còn vớt
Chị em mình như ớt chín cây”
Không hẹn mà cùng bấm lóng ngón tay
Hai số dư không biết đường nào đếm
Em muốn kể quãng đời lận đận
Ba mươi năm dài bao nỗi nhớ mong.
Ngày về nhà chị
Ngủ đêm đầu tiên
Nghe rạo rực không thể nào yên giấc
Dưới mé thềm rêu mọc đầy rau đắng đất
Con dế mèn thôi kể chuyện phiêu lưu
Nén tiếng thở dài
Sợ rung giọt đèn lu
Muốn được ngủ say trong vòng tay chị
Lời trách móc sao y như mẹ
Cái hồi còn thơ trẻ bên nhau!
Ai buộc đời mình vì một cọng rau
Ai khôn lớn qua cầu đi hút bóng
Nhìn quãng đồng xa một làn khói trắng
Cũng bâng khuâng nhớ lắm quê mình
Bỗng nghe thèm rau đắng nấu canh!
Biết tìm nơi đâu khung trời kỷ niệm?
Những chiều hoàng hôn tím
Những buổi dầm mưa đi học lạnh run!
Những buổi mưa dầm
Cha giắt đụt mướp trên lưng
Bắt con cá đồng ngược nước
Bên chái hè mưa tạt
Mẹ hái từng cọng rau đắng đất nấu canh.
Để nỗi nhớ vây quanh
Tóc trên đầu đã bạc
Chân giang hồ bỗng dưng chùn bước
Nghe giữa hồn rau đắng đất mọc xanh!



Nhà thơ NGUYỆT LÃNG, tên thật Nguyễn Văn Thẩm, sinh năm 1947, quê xã Vang Quới, Bình Đại, Bến Tre. Ông viết văn làm báo và viết cổ nhạc từ năm 1969. Trước tháng Tư, 1975 có thơ, văn đăng trên các báo ở Sàigòn.

    Thuở nhỏ sống trong gia đình nghèo khó, ông phải bỏ quê trôi dạt lên Sàigòn, làm đủ thứ nghề để mưu sinh và đi học. Ông là người có chí lập thân. Năm 1968 bị động viên vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Sau khi ra trường vài năm, với tinh thần nghệ sĩ chân chính, ông cảm nghiệm ra cuộc chiến “nồi da nấu thịt” hoàn toàn phi lý, bèn tự hủy hoại thân thể và được giải ngũ. Và vẫn ở Sàigòn, lăn lóc trên trường chữ nghĩa, sống cầm hơi bằng tiền nhuận bút.

    Sau ngày 30-4-75, ông trở về quê ở xã Vang Quới, Bình Đại, Bến Tre, nhưng bị địa phương nơi sanh ra mình không chấp nhận, đuổi đi. Ông trở nên trôi nổi nhiều nơi, cuối cùng tìm được bến đỗ tại Xã Minh Hương, Bình Phước, làm nghề rẫy là chính, viết là phụ. Vẫn sống trong nghèo khổ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét