Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2019

NHÌN LẠI LỊCH SỬ VỊNH XUÂN VIỆT NAM

BÀI 1: CỤ TỔ THỨ 2 LÀ AI
Đầu tiên hãy quay lại với bức ảnh lịch sử. Trong ảnh đó có cụ Tiển và cụ Phùng.
Xin giới thiệu với mọi người chân dung vị tổ sư thứ 2 của Vịnh Xuân Quyền Việt Nam, chính là người đang ngồi trên ghế trong ảnh. Cụ tên thật là Lôi Nhữ Tế.

(hầu hết mọi người trong ảnh đều đúng trừ sư phụ)
Và đây, xin giới thiệu chân dung vị tổ sư thứ 1 của Vịnh Xuân Quyền Việt Nam, chính là người đang ngồi trên ghế trong ảnh. Cụ tên thật là Nguyễn Tế Vân (người đứng sau lưng cụ là bác sĩ Nguyễn Khả Bá)

Cụ Lôi đã dạy : cụ Trần Văn Phùng, cụ Trần Thúc Tiển, cụ Vũ Bá Quý, cụ Việt Hương, cụ Ngô Phượng Tường, cụ Trần Văn Từ … Hầu hết các cụ người Việt Nam ở miền Bắc, trừ cụ Ngô Sỹ Quý, đều là học trò của cụ Lôi.
Ngoài Bắc, cụ Nguyễn đã dạy : cụ Cam Thúc Cường, cụ Ngô Sỹ Quý, cụ Hồ Hải Long, cụ Quách Tuyển
Trong Nam, cụ Nguyễn đã dạy : cụ Lục Viễn Khai, cụ Nguyễn Bá Khả, cụ Đỗ Bá Vinh, cụ Hoắc Phi Hùng, …
Cụ Lôi chính là sư tổ Vịnh Xuân Quyền Hà Nội
Cụ Nguyễn chính là sư tổ Vịnh Xuân Quyền cả Hà Nội và Sài Gòn (vì có đệ tử thành danh ở cả 2 nơi)
Nàm dưới ngôi mộ hiện nay ở Lái Thiêu, Bình Dương chính là cụ Nguyễn.
Cả 2 cụ đều là Tế công (chú ý chữ công được viết thường). Tại sao. Xin mời xem tiếp.
BÀI 2: MÂU THUẪN NGÔN NGỮ
Xin mời các bạn cùng quay lại với tôi và giỡ bức màn bao phủ bụi mờ của thời gian, mà sự hiểu lầm, bất đồng ngôn ngữ, sự kín tiếng, quá trình lịch sử đã thay đổi tất cả.
* Cụ Nguyễn:
Cụ Nguyễn tên khai sinh là Nguyễn Tế Vân, sinh năm 1877 tại Phật Sơn.
Khi lớn lên thì do cái tên “Tế Vân” đọc theo giọng Quảng Đông đồng âm với từ “trệ vận” (vận xấu, vận đen), nên cụ thường tự xưng là Nguyễn Tế mà bỏ chữ “vân” đi
Người Hoa khi gọi người già thì thêm chữ công (cũng đọc là cống) ở đằng sau tên, vì thế cụ Nguyễn Tế được gọi là Nguyễn Tế công (tức là ông Nguyễn Tế) hoặc ngắn hơn là Tế công (tức là ông Tế)
Trên mộ của cụ sau này được ghi là Nguyễn Tế công chi mộ (mộ của ông Nguyễn Tế)
Cụ Nguyễn là thứ 4 trong nhà, nên được gọi là Nguyễn lẩu shì (Nguyễn lão tứ)
Cụ Nguyễn là thứ 4 trong nhà, nên khi già còn được gọi là Nguyễn sáy cống (Nguyễn ông bốn) hay gọi đơn giản chỉ là sáy cống
* Lưu ý: dân Quảng Đông và dân Bắc Kinh còn gọi là shì cống (cũng có nghĩa là ông bốn)
* Cụ Lôi :
Cụ Lôi tên khai sinh là Lôi Nhữ Tế, không rõ năm và nơi sinh.
Cụ cũng hay được gọi là Tế công (cũng là ông Tế) đơn giản vì cụ cũng tên là Tế.
Tuy nhiên cụ còn được gọi là tài cống (tức là ông lớn) điều này có thể vì lí do kính trọng tuổi tác, hoặc cụ là con lớn (con cả) trong nhà.
Tóm lại, vì cùng tên là Tế, 2 cụ đều được gọi là Tế công (ông Tế) và không hề có liên can gì đến hoạt phật Tế Công thời Đường. Đồng thời, đôi khi một cụ còn được gọi là sáy cống (ông bốn) còn cụ kia được gọi là tài cống (ông lớn) Và dân Việt nghe sáy cống và tài cống là na ná nhau, không thể phân biệt được.
BÀI 3: LỊCH SỬ TRUYỀN BÁ VỊNH XUÂN VÀO VIỆT NAM CỦA CỤ LÔI
Cụ Lôi trước khi học Vịnh Xuân đã học nhiều môn võ khác nhau, trong đó có Hồng Gia.
Cụ Lôi hồi trẻ vốn làm nghề bán thịt heo. Sau một lần đánh thua cụ Trần Hoa Thuận, cụ Lôi đã xin theo cụ Trần Hoa Thuận học võ.
Cụ lôi là đệ tử thứ 4 của cụ Trần, là một đệ tử của dòng Lương Tán, và có sở học Hồng Gia.
Nên trong Vịnh Xuân Hà Nội sau này gần với dòng Lương gia và có đòn thế của Hồng Gia.
Cụ Lôi đem Vịnh Xuân vào Việt Nam trước cụ Tế.
Cụ Lôi đến hải Phòng năm 1907.
Khi tới Hà Nội, cụ lôi ở với gia đình bác sĩ Việt Hương gốc Hoa ở phố Hàng Buồm.
Cụ mở phòng mạch, bốc thuốc, chủ yếu chữ bong gân, gẫy xương.
Hiến binh Nhật truy lùng một sĩ quan quốc dân Đảng tên là Lương Nhữ Tế
Sau khi bị hiến binh Nhật phát hiện chỗ trọ, cụ Lôi phải chuyển chỗ ở.
Ông Việt Hương so kiếm với sĩ quan Nhật, bị Nhật phát hiện là dùng kiếm của Tế công nên phải chuyển chỗ ở.
Từ chi tiết này cho thấy Lương Nhữ Tế và Lôi Nhữ Tế rất có thể là một người. Có 2 lí do, hoặc người Nhật chép sai tên cụ, hoặc cụ lấy họ giả tên giả.
Lúc này, mấy gia đình Hoa kiều lần lượt đón cụ về nhà dạy võ. Về một thời gian sau, cụ bắt đầu dạy võ cho giới thượng lưu người Việt.
Còn các cụ người Việt thì góp chung tiền để mời cụ dến dạy.
Có thời gian cụ Lôi dạy võ tại Gia Ngư (cụ Tiển dành hẳn tầng 1 để cụ Lôi dạy võ)
Cụ Lôi dạy võ cho khá nhiều người.
Khác với cụ Nguyễn, ở trong gia đình người khác làm quản gia, thì cuộc đời cụ Lôi trong giai đoạn này khá phong phú và để lại nhiều giai thoại.
Hầu hết những giai thoại gắn với Tế công như đánh Tây đen, đọ sức với Pak sư phụ, … là giai thoại của cụ Lôi.
Có một giai đoạn cụ tiếp tục đi làm bảo tiêu thuốc phiện, có đem cả đệ tử theo, có lúc đem cụ Bá Quý ở Hải Dương, có lúc đem cụ Phùng.
Cụ Vũ Bá Quý học với cụ Lôi vào khoảng năm 1925-1926. Theo như Complete Wingchun của Rene, trong số học trò cụ Lôi có cụ Bá Quý.
Từ 1936-1946 cụ Phùng bắt đầu theo học cụ Lôi, sau đó vẫn qua lại chăm sóc cho đến khi cụ Lôi vào nam năm 54
Năm 1940, cụ Tiển bắt đầu theo học cụ Lôi. Nhưng học được 4 năm thì cụ bị nhà chức trách bắt giam.
Năm 1954 cụ Lôi di cư vào nam và đến nay chúng ta mất dấu của cụ.
BÀI 4: LỊCH SỬ TRUYỀN BÁ VỊNH XUÂN VÀO VIỆT NAM CỦA CỤ NGUYỄN
Cụ Nguyễn trước khi học Vịnh Xuân đã học nhiều môn võ khác nhau, trong đó có Thiếu Lâm cổ truyền.
Cha của cụ Nguyễn là Nguyễn Long Minh đã mời Hắc Bảo Toàn và Phùng Tiểu Thanh về dạy võ cho cụ Nguyễn và em ông là cụ Nguyễn Kỳ Sơn
Sau đó, Phùng Tiểu Thanh gửi tiếp cụ Nguyễn lên Kin Cương Tự và tiếp tục thụ giáo Giác Hải đại sư
Cụ Nguyễn học võ ở Kim Cương Tự, lấy pháp danh Nguyên Tế, dòng Vịnh Xuân Hoàng Hoa gia.
Năm 1930, cụ sang Việt Nam theo lời mời của các bang, hội người Hoa tại đây để dạy Vịnh Xuân Quyền cho các gia tộc quyền quí, giàu sang.
Khoảng năm 1938-1939, cụ ở nhà cụ Cam Túc Cường ở phố Hàng Buồm làm quản gia, giúp đỡ về kinh doanh và dạy võ cho cụ Cam Túc Cường.
Cũng thời gian cuối năm 1938 đầu năm 1939, cụ dạy võ cho cụ Ngô Sỹ Quý. Việc này chỉ kéo dài được 3 năm thì do rạn nứt giữ cụ Quý và cụ Cam, cụ Quý không tiếp tục học Nguyễn nữa.
Năm 1941, gia đình cụ Hồ Hải Long mời cụ Nguyễn đến dạy võ
Cụ Hồ hải Long chỉ học được một thời gian thì bị Pháp bắt giam năm 1945.
Sau này năm 1955 cụ Hồ Hải Long học tiếp với cụ Nguyễn trong nam.
Cuối năm 1954, cụ Nguyễn cùng gia đình và một số học trò di cư vào miền Nam, hành nghề đông y và dạy võ ở Đồng Khánh, Chợ Lớn. Trong Nam cụ Nguyễn có thu nhận thêm học trò là cụ Lục Viễn Khai, cụ Nguyễn Bá Khả, cụ Đỗ Bá Vinh … Sau này các đệ tử trong nam như cụ Hồ Hải Long (tên thật là Nguyễn Duy Hải), Đỗ Bá Vinh, Lục Viễn Khai cũng mở lớp dạy Vịnh Xuân. Tại Sài Gòn, Sư tổ Nguyễn Tế Công cùng gia đình sống ở ngõ Đồng Khánh, Chợ Lớn. Chiều ngày 23 tháng 6 năm 1959 (tức 18/5 Kỷ Hợi) ông Nguyễn Tế Công qua đời sau 2 ngày lâm bệnh và được an táng tại nghĩa trang Quảng Đông, Chợ Lớn. Sau này, thi hài ông đã được chuyển về nghĩa trang người Hoa Quảng Đông ở Lái Thiêu, Bình Dương. Ông có hai người con, một trai một gái, đều không học võ.
Khi cụ Nguyễn vào Sài Gòn có mở lớp dạy võ tại Đồng Khánh, Chợ Lớn. Cụ Nguyên Minh là sư đệ cụ Nguyễn tìm đến và có trách rằng: “Sao sư huynh lại dám dạy Vịnh Xuân. Sư huynh đâu được phép nhận đệ tử và dạy”
Cụ Nguyễn mới dắt tay cụ Nguyên Minh vào xem học trò đang tập và hỏi “sư đệ xem đấy có phải là VX không??” và cụ Nguyên Minh công nhận rằng cụ Nguyễn không dạy VX.
Như vậy cụ Nguyễn vào nam dạy một môn võ khác lấy tiền mưu sinh độ nhật. Tuy nhiên cụ vẫn dạy Vịnh Xuân cho vài học trò như cụ Lục Viễn Khai, Nguyễn Bá Khả … Tuy nhiên giai đoạn cuối đời cụ đã yếu nên không còn dạy được nhiều.
BÀI 5: LỊCH SỬ ĐỂ LẠI
Trong Sài Gòn về sau giới võ lâm vẫn tìm được những học trò học Tế công nhưng có võ công lạ, nếu là Vịnh Xuân thì cũng khác với Vịnh Xuân Hà Nội. Có thể chia những học trò này thành 3 nhóm :
Nhóm một, là những học trò theo học cụ Lôi. Có thể cụ dạy Hồng Gia hay võ Thiếu Lâm cho họ. Dù gì, nếu bắt gặp học trò Tế công trong Sài Gòn mà có võ Vịnh Xuân giống với Vịnh Xuân Hà Nội, thì đó chính là đầu mối để tìm lại cụ Lôi.
Nhóm hai, là những học trò theo học cụ Nguyễn nhưng là một môn võ khác chứ không phải Vịnh Xuân.
Nhóm ba, là những học trò theo học Vịnh Xuân với cụ Nguyễn. Vịnh Xuân này sẽ khác Vịnh Xuân Hà Nội (vì khác thầy) nhưng sẽ giống Vịnh Xuân của dòng cụ Ngô Sỹ Quý – cụ Hồ Hải Long)
Có tài liệu của Việt Nam cũng chép về cụ Tế công (có biệt hiệu là tài cống) mất khoảng năm 1973
Complete Wingchun của Rene chép một năm mất khác của Tế công, năm 1973.
Cần biết là chúng ta đã biết chắc cụ Nguyễn mất năm 1959, như vậy cụ Lôi sống thọ hơn cụ Nguyễn và mất khoảng vào năm 1973
Cần biết thêm là các nhà nghiên cứu võ học của phương tây, qua những tài liệu mà xác thực nhất là những tài liệu để lại của dòng Bành Nam, dòng Diêu Tài, dòng Nguyễn Kỳ Sơn, đã biết về 2 sư tổ thực sự của Vịnh Xuân Việt Nam. Chỉ có chính người Việt Nam thì chưa biết.
BÀI 6: CÁC CỤ ĐÃ HỌC GÌ TỪ 2 CỤ TẾ CÔNG
Cần phải nói nên là các thầy luôn dạy cho học trò tuỳ theo khả năng tiếp thu, trình độ, sở trường và bước đường tăng tiến của học trò. Trong quá trình học võ, nhất là võ cổ truyền Trung Hoa, có những cửa ải mà bắt buộc trò phải vượt qua được, thì thầy mới có thể dạy tiếp. Nó giống như ngày nay, một số môn học bắt buộc phải học xong môn trước đó (prerequisite subject) mới học tiếp được. Nếu trò có năng khiếu về phần nào, thầy sẽ đào tạo trò kĩ hơn về phần đó. Sở học của thầy thường là bao la bát ngát, vừa rộng vừa sâu (có thể nói là vừa tạp vừa chuyên). Lại nữa, nhiều trò đến đến gặp thầy đã theo học các môn khác, như vậy thầy sẽ căn cứ theo đó mà dạy tiếp.
Cụ Ngô Quý đã học từ cụ Nguyễn trong khoảng 3 năm. Cụ là người có năng khiếu tốt nên đã được cụ Nguyễn truyền dạy nhiều bài bản, nhất là chân truyền ngũ hình.
Cụ Hồ hải Long cũng đã học từ cụ Nguyễn trong một thời gian, cũng đã học nhiều bài bản của cụ, sau này vào nam được học tiếp nữa.
Cụ Phùng đã có sở học phong phú, võ công cao khi đến học cụ Lôi, nên cụ Lôi đã dạy cụ Phùng sở trường và bài bản thực chiến. Cụ Phùng đã theo học cụ Lôi lâu năm nhất, đã học được nhiều bài bản nhất, sở đắc kỹ thuật mộc nhân. Vì thế không có gì lạ nếu cụ Lôi đã nói với cụ Phùng “Nghề đã truyền hết cho Việt Nam nhân”
Cụ Tiển theo học cụ Lôi. Cần biết là nếu cụ Lôi theo học Lương gia thì cách dạy của cụ là công trước quyền sau. Tôn sư Diệp Vấn sau này để lại sở học cho đồ tử đồ tôn cũng là cách dạy đó. Tôn sư Diệp Vấn là sư đệ của cụ Lôi và là đệ tử của cụ Trần Hoa Thuận.
Cụ Vũ Bá Quý đã có sở học phong phú, đã từng học võ kinh và học từ nhiều thầy Tàu khác. Cụ Bá Quý học cụ Lôi xong, sau này đã dung nạp kỹ thuật Vịnh Xuân chung với những kỹ thuật của mình trước đó để tạo ra dòng phái võ công riêng.
Cụ Lôi đã dốc hết sở học của mình, truyền hết cho các đệ tử người Việt. Ai sở trường gì thì cụ dạy thêm về phần đó. Nếu bây giờ các học trò của cụ ngôì lại, tất sẽ tạo được trọn vẹn sở trường của cụ Lôi.
Vì thế không có gì lạ nếu cụ Lôi đã cảm thán “Vĩnh Xuân đã chuyển sang Việt Nam mất rồi” vì thấy được sự trưởng thành của môn sinh đệ tử.
Hàng loạt các sự hiểu lầm đã xảy ra sau đó giữa các cụ với nhau vì các cụ không biết bạn mình đã học phần gì mà mình không được dạy. Chưa kể các cụ còn theo học thầy khác nhau mà không hề biết.
Sau này sự hiểu lầm còn tiếp tục khi ở đâu đó trong Sài Gòn phát hiện thêm được học trò của Tế công với sở học cũng khác ngoài bắc.
Việc nhầm lẫn này, không phải chỉ có người Việt. Mà các thế hệ người Hoa sau này cũng bị, khi họ cũng không còn lại tài liệu gì chính xác. Chỉ còn dòng Bành Nam và Diêu thị là còn nắm rõ hơn cả.
BÀI 7: BÀN VỀ SỞ HỌC CỦA 2 CỤ
Có một vấn đề sẽ nảy sinh: trong 2 cụ, ai có sở học phong phú hơn ?
Cụ Nguyễn là sư huynh cụ Nguyên Minh nên sở trường của cụ Nguyễn cũng sẽ phong phú như cụ Nguyên Minh, tức là nếu theo học trọn vẹn sở học của cụ Nguyễn, sẽ phải học khá lâu như bác Nam Anh theo học cụ Nguyên Minh.
Dòng Vịnh Xuân Hoàng Hoa là dòng truyền thống, sở học lâu và đa dạng. Và được truyền dạy cho các lãnh đạo của phong trào phản thanh phục minh, và truyền dạy để gìn giữ và lưu truyền sở học của môn phái một cách bí mật.
Lương Tán đã rút gọn lại sở học của mình để phù hợp cho phong trào phản thanh phục minh. Dòng này có bài bản học nhanh, rút gọn để phù hợp cho các chiến binh ít thì giờ tập luyện.
Cụ Lôi là sư huynh tôn sư Diệp Vấn nên sở trường của cụ cũng sẽ rút gọn, ít hơn cụ Nguyễn. Do đó với thời gian ở Hà Nội lâu đến thế, cụ đã thực sự truyền hết cho các đệ tử ở Việt Nam, tùy theo sở trường và thời gian học của từng người.
Xét về sở học và số lượng đệ tử thì cụ Lôi mới có thể coi chính là cụ tổ Vịnh Xuân Hà Nội vì sở học của hầu hết võ sư Hà Nội đều là học từ cụ, và cụ thực sự rút tỉa tất cả sở học của mình để truyền lại hết. Cụ Lôi có sở học xuất phát từ dòng Lương Tán, được rút gọn lại, học những gì tinh túy nhất, hiểm hóc nhất, tiết kiệm thời gian nhất, theo nguyên tắc “nhiều thứ học cùng lúc” Sở học của Lương gia có thể coi như là đại diện cho trường phái “công trước quyền sau” của môn phái Vịnh Xuân quyền.
Sở học của cụ Nguyễn thì khác, rộng lớn hơn cụ Lôi vì cụ Nguyễn xuất phát từ dòng Vịnh Xuân cổ truyền với bài bản đầy đủ hơn. Ít nhất theo như những điều chúng ta đã biết thì đáng tiếc là ở Việt Nam, có lẽ chỉ trừ cụ Cam Thúc Cường, không ai được học hết bài bản của cụ Nguyễn. Cụ Ngô Sỹ Quý chỉ học được một thời gian. Cụ Hồ Hải Long cũng vậy rồi bị địch bắt. Sau này khi cụ Nguyễn vào nam thì đã yếu cũng không truyền lại hết được cho nhánh đệ tử trong nam. Trong số các đệ tử của cụ Nguyễn, chỉ có cụ Diêu Tài bên Trung Quốc là sở học đầy đủ hơn cả. Sở học của Hoàng Hoa gia có thể coi như là đại diện cho trường phái “học đầy đủ để giữ truyền thống” của môn phái Vịnh Xuân quyền.
Còn nếu so sánh giữa sở học của chính 2 cụ, sở học của ai lợi hại hơn thì cũng khó nói. Đây là câu chuyện còn đang tranh cãi, so sánh giữa trường phái “học ít nhưng tinh” mà nhiều nhà quyền thuật ủng hộ, trong đó có Bruce Lee, và trường phái “học nhiều để đa dạng sở học” mà nhiều nhà quyền thuật khác ủng hộ. Coi như là chuyện dài không hồi kết.
BÀI 8: Ý KIẾN CỦA TÁC GIẢ
Nghi ngờ đầu tiên của tác giả đến từ rất nhiều video của Vịnh Xuân Việt Nam mà bài bản rất giống Vịnh Xuân truyền dạy ở Quảng Đông, Trung Quốc, cụ thể là truyền dạy ở Thuận Đức, Phật Sơn, Hàng Châu, Cổ Lao, Quảng Châu.
Trong khi như tác giả đã biết trước đây thì Vịnh Xuân Việt Nam truyền từ dòng dõi cổ truyền là Vịnh Xuân Hoàng Hoa gia xuất phát từ cụ Nguyễn Tế Vân. Như vậy bên trong nhất định phải có sự tình uẩn khúc.
Khi tác giả bắt đầu đi tìm hiểu thì tác giả thấy là mình đã đúng. Không thể có một cụ quản gia nào, vừa lo chuyện làm ăn kinh tế trong nhà, dạy võ cho con cháu gia chủ, lại vừa có thể mở tiệm thuốc, đi sống ở nhà khác, lại mở lớp dạy võ cho nhiều người cùng lúc, lại đi làm bảo tiêu.
Còn chuyện cụ Lôi sang Việt Nam đã có nhiều nguồn tài liệu xác thực ghi lại, từ nguồn tài liệu tiếng Hoa đến tài liệu tiếng Anh.
Các nhà báo tiếng Anh cũng đã gỡ nhiều chi tiết của cụ Nguyễn Tế Vân trong trang web winghchunkuen.com, trong đó có việc gỡ một số tên tệ tử. Tiểu sử cụ Nguyễn chỉ còn lại các đệ tử : Hồ Hải Long, Ngô Sỹ Quý Nhân đây tác giả cũng muốn bàn đến chi tiết Đậu Bì Tế.
Đậu Bì Tế tức là Tế mặt rỗ. Cụ Nguyễn tên là Vân, nếu hồi nhỏ cụ bị mặt rỗ thì người ta phải gọi cụ là Vân mặt rỗ, do chỉ sau này cụ mới thay cái tên Tế Vân của mình bằng cái tên Vân.
Do đó Đậu Bì Tế chỉ có thể là một ai đó tên cúng cơm là Tế. Trước mắt chỉ có cụ Lôi tên thật mới là Tế. Cụ Lôi chính là Đậu Bì Tế.
Toàn bộ câu chuyện có thể tóm lại như sau :
Hai cụ Tế cùng sang Việt Nam và cùng dạy Vịnh Xuân ở Hà Nội. Hai cụ cùng vào Sài Gòn. Chiến tranh chia cắt 2 miền. Cụ Nguyễn vào Sài Gòn và nổi tiếng. Các thế hệ học trò ở miền Bắc sau này tìm lại tung tích tổ sư thì chỉ tìm thấy tung tích cụ Nguyễn nên đinh ninh đây là tổ sư của mình. Cụ Lôi thì vào Sài Gòn và sống lặng lẽ hơn nên ít ai biết tới. Cụ sống trong cộng đồng người Hoa vốn kín tiếng, lại do những biến động lịch sử và chiến tranh nữa. Thời gian có sức mạnh xoá sạch tất cả. Có thể nói lịch sử đã mất dấu cụ Lôi, cần phải nỗ lực đi tìm lại.
Hiện nay ở Sài Gòn có nhiều dòng Vịnh Xuân mới phát triển trong vài năm gần đây. Có dòng Vịnh Xuân Trần Thông truyền từ Lương Khôi, cũng là thuộc dòng Vịnh Xuân Lương gia. So với phả hệ thì gần với Vịnh Xuân Hà Nội truyền từ cụ Lôi cũng là Vịnh Xuân Lương gia. Ngoài ra còn nhiều dòng du nhập từ Vịnh Xuân Lương gia nữa cũng đang ở Việt Nam, cụ thể là từ Vịnh Xuân Hồng Kông, từ William Cheung, từ Vịnh Tân của Lương Đĩnh … mà tác giả chưa có dịp tiếp xúc nên chưa biết.
BÀI 9: TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tổng hợp từ dòng Bành Nam
Tài liệu tổng hợp từ dòng Trần Nhữ Cẩm (hay Trần Nhữ Miên)
Tài liệu tổng hợp từ dòng Diêu Tài
Tài liệu tổng hợp từ dòng Nguyễn Kỳ Sơn
Tài liệu của wingchunpedia.org
Tài liệu của wingchunkuen.com
Tài liệu của ewingchun.com
Tài liệu của wcarchive.com
Tạp chí Kungfu Magazine
Complete Wingchun của Rene Ritchie, Robert Chu
Wingchun Kungfu của Yimmy Lee
Phật Sơn Vịnh Xuân Quyền ngữ lục (tư liệu của Phật Sơn Vịnh Xuân Quyền Hội quán)
Tư liệu của Phật Sơn Diêu thị Vịnh Xuân quyền (chi phái Hàng Sơn)
Một số bài viết của cụ Nguyễn Tổ Đường
Bài viết của nhà báo Đỗ Hóa với lời kể của cụ Phan Dương Bình
Tư liệu về bác sĩ Khả theo lời kể của thiếu tướng Nguyễn Văn Chức
Tư liệu võ thuật miền nam trước 75
Các tài liệu tiếng Việt của
wingchun.com.vn
shaolinwingchun.com
vinhxuanngogia.net
vinhxuan.org
10. NHÂN VẬT LƯƠNG TẾ
Theo cụ Phùng Chấn, học trò của cụ Hoàng Hoa Tâm, học trò của cụ Lương Tán ở Cổ Lao, thì Lương Tán có tất cả 5 người con. Cả 5 người con này đều không thích tiếp tục theo nghề thuốc của cha nên Lương Tán bán tiệm thuốc và về Cổ Lao ở ẩn. Người con thứ hai của Lương Tán tên là Lương Tế, có sang Việt Nam và cũng ở Quảng Đông hội quán. Lương Tế thì chắc chắn không phải là Nguyễn Tế Vân vì Nguyễn Tế Vân là con của Nguyễn Long Minh. Lương Tế chắc chắn cũng không phải Lôi Nhữ Tế vì Lương Tế là con ruột Lương Tán còn Lôi Nhữ Tế là học trò của Trần Hoa Thuận là đệ tử Lương Tán. Lương Tán chắc chắn không kêu con ruột mình đi học đệ tử, người mà ông không truyền hết nghề cho.
Vậy thì nhân vật Lương Vũ Tế và Lương Nhữ Tế rất có thể chỉ là một người và đó là Lương Tế.
Dưới đây chỉ là suy luận (vì không có thêm tư liệu nên chỉ dựa vào logic và lời kể của cụ Phùng Chấn)
Nếu cái tên Lương Vũ Tế xuất hiện trong tài liệu của hiến binh Nhật thì rất có thể đấy mới chính là tên thật của Lương Tế. Nếu Lương Vũ Tế là sĩ quan lên đến hàng tướng thì địa vị của cụ Lương này cực cao, có thể là một trong những chỉ huy của phong trào phản Thanh phục Minh. Như vậy hoàn toàn phù hợp với giả thiết Lương Tán cũng chính là một đầu não của phong trào phản Thanh phục Minh, trong vỏ bọc một thầy thuốc. Giả thiết này hoàn toàn hợp lý vì quyền pháp họ Lương chính là quyền pháp rút gọn để đào tạo chiến binh cho tham gia phong trào phản Thanh phục Minh.
Tư liệu về cụ Lương Tế chỉ dựa vào lời kể của cụ Phùng Chấn, nên không mạnh. Do đó chỉ có thể là suy đoán. Còn tư liệu về cụ Lôi và cụ Nguyễn thì chắc chắn và rõ hơn nhiều vì có nhiều tư liệu tham khảo hơn.
Bây giờ phân chia ra theo nơi ở của các cụ là thấy hợp lý ngay :
Cụ Lương Vũ Tế tham gia phản Thanh phục binh ở vai trò lãnh đạo (thuộc hàng tướng lãnh ) và sau đó tham gia kháng chiến chống Nhật, sau sang Việt Nam để trốn quân Nhật, bị hiến binh Nhật sang cả Việt Nam để tìm. Cụ này ở Quảng Đông hội quán. Đến đây chúng ta mất dấu.
Cụ Lôi Nhữ Tế cũng tham gia phản Thanh phục Minh, chạy sang Việt Nam để trốn kẻ thù cũ (sau này bị kẻ thù cũ sang tận Việt Nam truy đuổi). Cụ Lôi Nhữ Tế này ở trong nhà cụ Việt Hương, mở tiệm thuốc, về sau này mở lớp học võ, có thời gian mở lớp trong nhà cụ Tiển.
Cụ Nguyễn Tế Vân được mời sang Việt Nam làm quản gia và dạy võ cho gia đình gia chủ. Cụ Nguyễn Tế Vân này ở trong nhà cụ Cam Thúc Cường, lo chuyện làm ăn kinh doanh và dạy võ cho mấy anh em họ Cam.
11. SƯ PHỤ CỦA VÕ SƯ HỒ HẢI LONG
Ai có quyển “Võ Đang Bát Bảo quyền” của đại sư Nam Anh đã viết ngày xưa xin hãy up ebook ngay lên đây. Tôi tin là không ít người có. Tôi thấy bán đầy ebook quyển này trên mạng internet.
Trong câu này, phần tiểu sử võ sư Hồ Hải Long, võ sư Nam Anh đã viết một câu sau đây :
”…Ngoài số vốn võ thuật nói trên, người còn may mắn được gặp 1 danh sư Phúc-Kiến là Nguyễn Tế Công thuộc Vĩnh Xuân Phật gia Thiếu Lâm. Nguyễn sư phụ chỉ có 1 sư huynh đã đi tu và 1 sư đệ là thày Diệp-Mạnh hiện còn sống ở Hồng-Kông, tức là thày của võ sư Lý Tiểu Long (Bruce Lee) hiện tại…”
Cần nhắc là tất cả các anh đều đã biết Diệp tổ sư gia của tệ phái còn có thể gọi tên húy là Vấn hay Mạnh tùy phát âm.
Cụ Nguyễn Tế Vân không thể là sư huynh của Diệp tổ sư gia, chỉ có cụ Lôi Nhữ Tế mới là sư huynh của Diệp tổ sư gia.
Như vậy, cụ Tế dạy cụ Hồ Hải Long chính là Lôi Nhữ Tế.
Và việc cụ Hồ hải Long lập ra Lôi Vũ Đạo và cho trưởng nam của cụ võ sư Nguyễn Duy Vũ làm chưởng môn của mình thập chí còn củng cố rất mạnh cho điều này và chứng minh được ít nhất vài điều :
– cụ Hồ Hải Long biết tên thật của sư phụ
– cụ Lôi đã không cho cụ Hồ Hải Long biết tên môn phái khi dạy là Vịnh Xuân, vì lí do nào đó, có thể vì giữ bí mật, hoặc cụ Hồ Hải Long không được phép hỏi
– vì thế cụ Hồ Hải Long đặt tên môn phái theo họ của sư phụ như môn phái gia đình “Lôi gia võ đạo” và cho trưởng nam làm chưởng môn
– đồng thời cụ cho phép các nội đồ thành lập môn phái riêng tư lập môn hộ như môn phái Thần Khí Đạo của võ sư Nam Anh
– Lôi Vũ Đạo trong nam xuất xứ từ cụ Hồ Hải Long và Lôi Vũ Đạo miền bắc (theo anh Trung) là cùng 2 nhánh của một môn phái võ gia đình “Lôi gia võ đạo”
Như vậy, sư công của võ sư Nam Anh, tức sư phụ của võ sư Hồ Hải Long, chính là cụ Lôi Nhữ Tế.
Rõ ràng võ sư Nam Anh cũng biết điều này nên đã chép vào sách “Võ Đang Bát Bảo quyền” của võ sư.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét